Thơ Đồng Đức Bốn.

Thảo luận trong 'VĂN HỌC - NGHỆ THUẬT' bắt đầu bởi thaothucSG, 18 Tháng bảy 2005.

Trạng thái chủ đề:
Không mở trả lời sau này.
  1. thaothucSG Thành viên

    Chợ


    Chợ buồn đem bán những vui
    Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em


    Chợ buồn bán nhớ cho quên
    Bán mưa cho nắng bán đêm cho ngày


    Chợ buồn bán tỉnh cho say
    Bán thương suốt một đời này cho yêu


    Tôi giờ xa cách bao nhiêu
    Đem thơ đổi lấy những chiều tương tư



    Đồng Đức Bốn - Trích từ tập thơ " Đừng nhìn em như thế " - NXB Trẻ - 1997

    Nhà quê

    I-

    Nhà quê có cái giếng đình
    Trúc xinh cứ đứng một mình lẳng lơ
    Nhà quê có mấy trai tơ
    Quần bò mũ cối giả vờ sang chơi


    II -

    Nhà quê chân lấm tay bùn
    Mẹ đi cấy lúa rét run thân già
    Chợ làng mở dưới gốc đa
    Nhà quê đem mấy con gà bán chơi


    III -

    Bây giờ không thấy Thị Mầu
    Nhưng con mắt ấy còn lâu mới già
    Mỗi lần cây cải nở hoa
    Thì tôi lại nhớ người ta chưa về
    Mỗi lần cỏ dại trên đê
    Chim ngói đi thả bùa mê khắp đồng
    Bây giờ em đi lấy chồng
    Tôi giờ về lại bến không tìm mình


    IV -

    Bao nhiêu là thứ bùa mê
    Cũng không bằng được nhà quê của mình
    Câu thơ nấp ở sân đình
    Nhuộm trăng trăng sáng , nhuộm tình tình đau
    Nhuộm buồn những hạt mưa mau
    Thành sao nở trắng vườn cau trước nhà
    Nhuộm hương của các loài hoa
    Thành mơn mởn tóc đuôi gà cho em



    Đồng Đức Bốn - Trích từ báo Tiền Phong CN - 14.3.2004




    Chờ đợi tháng Ba


    Bây giờ chờ đợi tháng Ba
    Tôi ra đứng ở cây đa đầu làng


    Khói nhà ai cứ mọc ngang
    Con nhà ai cứ lang thang chợ chiều


    Lề đường trong những chiếc lều
    Có cô hàng xén ngồi vêu cả ngày


    Ngả nghiêng mấy bác thợ cày
    Rượu say vác cả cối chày nện nhau


    Miếu thờ phật tượng ngồi đau
    Cửa thiền rêu đã lên màu cổ xưa


    Tháng Ba vắng tiếng chuông chùa
    Bây giờ tôi đợi bóng vua qua làng



    Đồng Đức Bốn - Trích từ báo Tiền Phong CN - 14.3.2004



    Sông Thương Ngày Không Em




    Không em ra ngõ kéo diều
    Nào ngờ được mảnh trăng chiều trên tay.

    Luồn kim vào nhớ để may
    Chỉ yêu cứ đứt trên tay mình cầm.

    Sông Thương như gỗ hóa trầm
    Mùi hương để vết tím bầm trên da.

    Sông Thương từ buổi em xa
    Tay anh quờ xuống hóa ra bị chàm.

    Em đi như chim về ngàn
    Để rơi một cánh hoa tan nát chiều.

    Tôi đi tìm một tình yêu
    Trên dòng sông chứa rất nhiều ban mai.

    Tôi đi trên dòng sông gai
    Lốt chân chim đậu trên vai thành hồ.

    Không em từ bấy đến giờ
    Bàn tay vẫn héo như cờ chịu tang.






    Em xa



    I



    Có một chiều như thế
    Em đi không thấy về
    Gió nằm ở chân đê
    Im lìm nghe lá đổ




    Anh ra chờ ngoài ngõ
    Ðứng ngóng tận đầu sông
    Mặc cho bão cho giông
    Anh vẫn chờ như thế




    Sao em không thấy về?



    II



    Ðợi em cùng sao khuya
    Cỏ hoa màu mắt nhớ
    Chạm vào mùi hương mở
    Máu anh hồng trên gai




    Lòng anh cơn bão dài
    Giết chết đêm mong đợi
    Chỉ còn đường em tới
    Anh vẫn mưa đền cây.




    Chăn trâu đốt lửa



    Chăn trâu đốt lửa trên đồng
    Rạ rơm thì ít gió đông thì nhiều
    Mải mê đuổi một con diều
    Củ khoai nướng để cả chiều thành tro.




    Không đề



    I



    Cái đêm em ở với chồng
    Ðể ai hóa đá bên sông đợi đò
    Cái đêm hôm ấy gió mùa
    Tơ nhện giăng đến cổng chùa thì tan.




    II



    Cái đêm lành lạnh gió mùa
    Em trong chăn ấm có đùa với ai




    Ngang trời tiếng vạc mảnh mai
    Chém trăng đã đứt thành hai mảnh rồi
    Mảnh nào em để cho tôi
    Khi buồn chỉ đặt ngang môi làm kèn.




    Thư mùa xuân



    Có điều gì quan trọng lắm không em
    Khi ngõ nhỏ đường đèn khuya đã tắt
    Em mang nỗi buồn bỏ ngoài cửa sắt
    Anh đem về làm thơ




    Có điều gì quan trọng lắm anh chờ
    Em vẫn hát say sưa trước cuộc đời quá đẹp
    Giữa nỗi buồn và ô cửa khép
    Là nụ cười em có biết không




    Có điều gì xin em chớ làm giông
    Có điều gì xin em đừng làm bão
    Dù có phải đói cơm rách áo
    Anh vẫn tin mọi sự tốt lành




    [font=&quot]Nên chẳng có điều gì quan trọng lắm đâu em
    Khi biết sống mộng mơ và tự tin mãnh liệt
    Em vẫn bảo yêu anh đến tận cùng cái chết
    Như mùa xuân về anh biết và tin.
    [/font]
  2. thaiphong82hp

    thaiphong82hp Thành viên

    Bài viết:
    992
    Được Like:
    189
    Ông Bồn Đức Đống này là ông nào dzị ta? =))
  3. thaothucSG

    thaothucSG Thành viên

    Bài viết:
    287
    Được Like:
    133
    Chán nhỉ! Mình đã viết rõ ràng là Đồng Đức Bốn rồi cơ mà?
  4. Ngọc Uyên

    Ngọc Uyên Thành viên

    Bài viết:
    402
    Được Like:
    730
    Ui anh để ý đến người khác làm gì ạ! Anh cứ post đi, em vẫn đọc đây mà...
  5. Gus

    Gus Ex-Mod

    Bài viết:
    783
    Được Like:
    616
    Đừng để ý, tiếp đi a. Dù kô biết thưởng thức thơ cho lắm nhưng mấy bài này đọc nghe lạ và hay, luôn tiện a có thể giới thiệu sơ về tg cho a e khỏi thắc mắc nữa.
  6. thaothucSG

    thaothucSG Thành viên

    Bài viết:
    287
    Được Like:
    133
    Nhà thơ Đồng Đức Bốn sinh năm 1948 tại Hải Phòng, hiện vẫn đang sinh sống tại Hải Phòng, người làm thơ lục bát hiện đại rất hay được đánh giá "Nguyễn Bính" thời hiện đại.

    Theo nguyện vọng của các bạn, mình chỉ dám xin trích lời nhà văn Nguyễn Huy Thiệp để giới thiệu về nhà thơ Đồng Đức Bốn để các bạn hiểu thêm nhé!

    Một nhân vật hoang đường

    Trong làng văn Việt Nam hiện đại, Đồng Đức Bốn có lẽ là một trong những nhân vật hoang đường vào bậc nhất. Tôi chơi với Đồng Đức Bốn 15 năm nay, quan sát anh, thú vị, yêu ghét lung tung lẫn lộn.

    Trong truyện Thuỷ Hử có nhân vật Lý Quỳ, chuyên chơi búa, chỉ biết đánh nhau trên cạn. Lý Quỳ ít học, tính nóng nảy, không phải ai cũng chịu được y, bồ ruột với Cập Thời Vũ Tống Giang như hình với bóng. Lý Quỳ có hiếu với mẹ nhưng lại sơ xuất để hổ ăn thịt mẹ, giết 5 con hổ một lúc để báo thù cho mẹ. Lý Quỳ làm được nhiều việc, bảng màu ở trong tính cách của y đơn giản phần lớn chỉ có hai màu đen trắng, đúng sai... Không có màu trung gian. Lý Quỳ đúng là trận gió tuyền đen (Hắc Toàn Phong). Sức mạnh bản năng của y thật ghê gớm.

    Đồng Đức Bốn phần nào giống như Lý Quỳ.

    Đồng Đức Bốn không học hành nhiều, tôi đoán anh chưa qua hết được bậc phổ thông trung học. Anh nói ngọng, luôn lúng túng giữa “n” và “l”. Những rắc rối của từ vựng và ý nghĩa đa chiều của nó làm anh rối trí, rất bực và rất “nhặm”. Tôi có lần nói đùa rằng Đồng Đức Bốn chỉ biết có 600 từ tiếng Việt. Giải pháp tốt nhất khiến Đồng Đức Bốn thoát khỏi lưới rập ngôn từ là thả phanh nói tục, nói toạc ra thẳng thừng. Nói tục là một cách tiếp cận chân lý trắng trợn và hiệu quả nhất. Tôi chưa thấy ai nói tiếng Việt tục hay như Đồng Đức Bốn! “Mở miệng thời văng tục rầm lên”. Đồng Đức Bốn không suy nghĩ nhiều nhưng khi tia chớp bản năng vừa mới bừng lên loé sáng là anh “múc liền, bụp luôn”! Sự hồ đồ trong các kết luận vội vàng khiến Đồng Đức Bốn rất “nhọc”: anh luôn luôn nhầm lẫn, ngộ nhận, sửa chữa, phá sức, xin lỗi, dựng kế hoạch, “để tôi điều” (nghĩa là điều chỉnh, sai bảo “dù cho méo nắn lệch kê cũng đành”).

    Đồng Đức Bốn không phải là người “của logic”, âm mưu và kế hoạch. Anh luôn luôn là người của cảm giác, của các giải pháp tình thế. Trong các tình thế 5 ăn 5 thua, sự lưỡng lự rắc rối loanh quanh làm cho tất cả đều mỏi thì “ngọn gió tuyền đen” Đồng Đức Bốn “múc liền, bụp luôn”, “thắng quả đậm” ngay sau đó “phắn” liền, mất tích! Ta gần như không thấy Đồng Đức Bốn có bài thơ nào hay nhưng những câu thơ hay “tình thế” của Đồng Đức Bốn thì “chi chít”: những câu thơ hay ấy để ở trong bài thơ nào cũng được (khác với Nguyễn Bính: Nguyễn Bính có nhiều bài thơ hay nhưng để chọn ra được những câu thơ hay đơn lẻ thì rất khó chọn). Bài thơ hay nhất của Đồng Đức Bốn thực ra chỉ là một bài thơ tự do “du côn”, có phần nào tục tĩu, đầy rẫy mẹo mực của bọn lêu lổng ở trên thành phố: “Em bỏ chồng về ở với tôi không?”.

    Đồng Đức Bốn bắt đầu “gian díu với kinh thành”, bước chân vào “giang hồ”, vào làng thơ bằng tập thơ Con ngựa trắng và rừng quả đắng (1992): một tập thơ tự do mà tôi đã có lần nói thẳng là “chỉ đáng xách dép cho Bằng Việt và Lưu Quang Vũ”. Đồng Đức Bốn đã chọn nhầm “vũ khí”. Thơ tự do là trò chơi của “đám giặc già giặc non lăng nhăng thơ phú có học”. Vũ khí của Đồng Đức Bốn phải là thơ lục bát: một thể thơ “tầm vông”, một thể thơ dân tộc, rất “búa”, “lấy tình át chữ”. Tập thơ Chăn trâu đốt lửa (1993) toàn thơ lục bát của Đồng Đức Bốn mới xác lập “chiếu trên” của anh ở trên văn đàn.

    “Bao nhiêu là thứ bùa mê / Cũng không bằng được nhà quê của mình”; “Đưa em qua trận bão người / Bằng câu lục bát của giời cho anh”; “Tôi là thi sĩ đồng quê / Dám đem lục bát làm mê cung đình”.

    Thơ lục bát là “giấy giới thiệu”, là “các-vi-dít” cho Đồng Đức Bốn “đánh đu” với các ông Tống Công Minh lớn nhỏ khắp bốn phương trời. Bước đường công danh của Đồng Đức Bốn đem lại cho anh không biết bao nhiêu ngọt bùi, bao nhiêu cay đắng. Thức ăn trộn lẫn thuốc độc hàng ngày: lẽ đời là thế! Bệnh ung thư bắt đầu từ đấy...

    Đồng Đức Bốn như một nhân vật hoang đường bậc nhất thời nay: từ một nông dân chất phác mơ mộng ít học trở thành một thi sĩ tài danh bậc nhất, từ một kẻ ăn chạc nợ đìa thành một đại gia khét tiếng một vùng!

    Tôi ước ao có thể viết được một bộ phim hoặc một tiểu thuyết về Đồng Đức Bốn: một nhân vật hoang đường bậc nhất của thời hiện đại!


    Một người bạn hiếm có!

    Đồng Đức Bốn phát hiện ra mình bị bệnh ung thư ác tính (chẩn đoán độ 3) từ ngày 13 tháng 5 năm 2005. Những ngày trị bệnh ở Hà Nội, các quan chức, bạn bè đến thăm Đồng Đức Bốn rất nhiều “đến sốt ruột” (lời của một nhân viên khách sạn H.) “Sừng tê giác, cổ linh chi / Thuốc men nào có thiếu gì nữa đâu”. Tôi quan sát Đồng Đức Bốn, nhận ra sự tiếc đời ở trong lòng đen của con mắt nhãn cứ mờ dần đi. Sống chết ở đời thực ra có ý nghĩa gì quan trọng? Có lẽ, tôi sắp mất đi một người bạn tốt. Rồi ngày nào đó cũng đến lượt tôi. Đến lượt tôi, chắc chắn tôi sẽ không sắp xếp một cái chết “nhặng xị” như Đồng Đức Bốn.

    Tôi và Đồng Đức Bốn có những kỷ niệm khó quên. Tôi đã viết giới thiệu thơ anh khá là nồng nhiệt ở trong và ngoài nước. Anh luôn chơi “tháu cáy” khi biên tập lại một số bài viết của tôi về anh. Chính tôi cũng không biết là tôi có gọi anh là “vị cứu tinh của thơ lục bát” hay không cơ nữa. Thực ra điều ấy cũng chẳng có gì quan trọng. Đồng Đức Bốn có đầy đủ phẩm chất của một thi sĩ tài danh: anh vừa thực thà, vừa giảo hoạt, vừa anh hùng, vừa nhút nhát, một tay hào phóng bốc giời nhưng cũng bủn xỉn đong đếm từng củ dưa hành. Con người trần tục là thế, con người thánh nhân là thế. Sự thành thực to lớn, điên dại và ngông cuồng với cả cái hay, cái dở của Đồng Đức Bốn khiến cho nhiều người cảm động và thích thú anh. Lại nhớ đến một câu thơ của nhà thơ Nga Đécgiavin: “Ta là vua, ta là nô lệ. Ta là sâu bọ, ta là thần”.

    Đồng Đức Bốn, người bạn hiếm có của tôi! Anh là một thi sĩ đáng yêu nhất mà tôi có nhân duyên gặp gỡ trong đời! Cuộc đời người ta vô thường như những ngọn gió. 5 năm trước, khi viết truyện ngắn “Đưa sáo sang sông” tôi đã nói đến ngọn gió vô thường này ở trên dòng sông thời gian cuộc đời: “Ngoài sông gió xuân thổi. Kìa gió xuân thổi bơ phờ trên mặt sông xanh ơi là xanh!”.

    Đồng Đức Bốn! Như một ngọn gió! Như một ngọn gió trên cánh đồng xanh, trên dòng sông xanh...

    Hà Nội 10/6/2005

    Các file đính kèm:

    • 15475.jpg
      15475.jpg
      Kích thước:
      6.9 KB
      Đọc:
      181
  7. thaothucSG

    thaothucSG Thành viên

    Bài viết:
    287
    Được Like:
    133
    Đồng Đức Bốn là ai - bước đầu khởi nghiệp

    Đồng Đức Bốn sinh ngày 30-3-1948, quê quán ở xóm Lê Lác, thôn Song Mai (tức làng Moi), xã An Hồng, huyện An Hải, thành phố Hải Phòng.
    Thuở hàn vi, Đồng Đức Bốn đã từng là thanh niên xung phong. Giải ngũ, Đồng Đức Bốn về làm việc tại Xí nghiệp sửa chữa ô tô Hải Phòng, làm thợ gò bậc 6/7. Sau đó, Đồng Đức Bốn về làm việc tại Xí nghiệp xuất nhập khẩu gia cầm Hải Phòng, giữ chân đại diện cho Xí nghiệp này ở Hà Nội.
    Thời kỳ buôn bán chè chai, lông vịt ở Hà Nội cũng là thời kỳ anh chàng nửa quê nửa tỉnh này gia nhập văn đàn, bắt đầu ăn những đòn văn chương đầu tiên trong cuộc đời mình. Nguyễn Khoa Điềm đã vẽ khá chính xác chân dung nhà thơ tương lai trong câu thơ sau:


    Văn chương lấm láp vêu vao mặt người


    Văn đàn Thủ đô khoảng những năm 1987 1992 rất sôi động. Tất cả đều như hóa rồ hóa dại. Công cuộc đổi mới trong toàn xã hội do Đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xướng bắt đầu. ở đâu người ta cũng nói đến Perestroika, đến đổi mới. Giới văn chương ở Thủ đô bấy giờ luôn thấy Đồng Đức Bốn la cà, lân la ở các tụ điểm, các tòa soạn, các quán nước chè (còn có quán tên là Tương lai văn hóa văn nghệ Việt Nam đi về đâu!). Đồng Đức Bốn bấy giờ như một con ngựa trắng lang thang trong rừng quả đắng, anh hoang mang dò dẫm từng bước một trên con đường thơ, chẳng biết đâu là sở trường, sở đoản của mình. Đây cũng là thời kỳ Đồng Đức Bốn làm quen với những Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Lưu Quang Vũ, Vũ Quần Phương... những nhà thơ cung đình bậc nhất, những ông hoàng đang ngự trị trên ngai vàng thơ lúc ấy.
    Tập thơ Con ngựa trắng và rừng quả đắng của Đồng Đức Bốn in năm 1992 do đàn anh Phạm Tiến Duật biên tập và viết giới thiệu bộc lộ khá rõ tâm thế của chàng thi sĩ tương lai lúc này: Đồng Đức Bốn hoàn toàn chưa nhận ra mình, anh đang như một người mê ngủ. Chen lẫn với một số bài thơ lục bát khá độc đáo là rất nhiều những bài thơ tự do ỡm ờ, nửa dơi nửa chuột, lúc cao giọng chính trị, lúc học đòi cung cách trí thức lả lơi.
    Tập thơ đầu tiên in ra! Nhụy đào đã bẻ cho người tình chung! Chao ôi là hy vọng! Chao ôi là hạnh phúc! Mùi giấy mới thơm lừng! Các con chữ óng ánh mực in và âm điệu du dương khiến ai mà không mê mẩn!
    Thời gian trôi đi.
    Thời gian vô tình, vô cảm, thản nhiên, lạnh lùng, tàn nhẫn...
    Đồng Đức Bốn rỗng túi! Tập thơ đầu tiên mà Đồng Đức Bốn trai tân đặt vào đấy rất nhiều hy vọng đổi đời đã bị dư luận nông nổi và bạc bẽo ngoảnh mặt quay đi. Giống như một gái nhà quê ra tỉnh gặp phải tay phàm, Đồng Đức Bốn chẳng được gì, vừa tẽn tò, vừa ê chề, nhục nhã, lại thân bại danh liệt. Có lẽ bài thơ tự do hay nhất, đáng kể nhất, cáu kỉnh và thảm sầu nhất mà Đồng Đức Bốn đã văng ra được trong thời kỳ này là bài thơ Em bỏ chồng về ở với tôi không?. Trong bài thơ này, bóng dáng của mấy người tình thơ như Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Lưu Quang Vũ, Vũ Quần Phương... vẫn còn dây đầy nhơm nhớp trong từng câu thơ, từng khổ thơ một:


    Xa một ngày hơn triệu mùa đông
    Em bỏ chồng về ở với tôi không
    Nỗi nhớ cồn cào như biển.

    Nơi em ở tôi đi và đến
    Cho tháng ngày em sống bớt cô đơn
    Con muỗm xanh trên sóng lúa dập dờn
    Hương cỏ dại mãi bên hồ nước đắng.


    Đồng Đức Bốn có lần hỏi tôi về bài thơ này, tôi bảo nó hay vì do cái chí, cái khí uất, cái tình cảm nông nổi thực thà, thậm chí có phần du côn liều lĩnh đã toát ra khiến cho người ta xúc động, còn toàn bộ câu thơ ở trong bài thơ thì vứt đi cả, chẳng ra gì. Nhưng anh không chịu.
    Ngay từ đầu bước vào làng thơ, Đồng Đức Bốn đã có chịu ai bao giờ!


    Nguyễn Huy Thiệp
  8. thaiphong82hp

    thaiphong82hp Thành viên

    Bài viết:
    992
    Được Like:
    189
    Sorry thaothucSG, mình đùa tí thôi.Nhưng mà quả là không biết thưởng thức thơ lắm. Ông này cũng ở HP mà mình ko biết, xí hổ quá.Trông ảnh giông giống cái ông trước mình đi ăn phở hay gặp ở quán phở =)) =))
    Chết cha, lại nói linh tinh rồi.
  9. Ngọc Uyên

    Ngọc Uyên Thành viên

    Bài viết:
    402
    Được Like:
    730
    Coi chừng bị "hội nhà văn" của 4rum đánh hội đồng nhá...
Trạng thái chủ đề:
Không mở trả lời sau này.